Bài 13· Bài dài và chủ trương · còn 5–4 tuần· 35 phút

一段落いちだんらく、一行いちぎょうMột đoạn, một dòngBài dài khoảng 1.000 chữ (内容理解・長文)

Tối thứ Hai, trời trong, khoảng 15 độ. Đoàn khách đi Đà Nẵng đã bay sáng nay, sau ba ngày dời chuyến vì bão. Hine mở bài dài đầu tiên: khoảng 1.000 chữ về du lịch sau thiên tai. Bài dài không khó vì chữ — nó khó vì đọc tới đoạn năm là quên đoạn hai. Cô chia bài thành 6 đoạn, mỗi đoạn tóm một dòng bên lề.

  • Dạng đề 10: bài giải thích, tiểu luận, tiểu thuyết dài
  • Đọc câu hỏi trước, chia đoạn, tóm mỗi đoạn một dòng
  • 4 câu mỗi đề
JLPT · Chủ nhật 1/12/2030

Còn 34 ngày

Thứ Hai 28/10, 9 giờ tối · Đoạn dài

Cảnh 1 · Đọc như thi

Một nghìn chữ, sáu dòng bên lề

Bài giải thích về du lịch sau thiên tai, khoảng 1.000 chữ, 4 câu hỏi, đồng hồ 13 phút như đề thật. Đọc 4 câu hỏi trước. Mỗi khi hết một đoạn, dừng lại viết ra giấy một dòng tóm 5–7 chữ tiếng Việt.

Phiên âm

13:00 Bấm để bắt đầu

Đồng hồ 13 phút cho 4 câu. Hết giờ vẫn làm tiếp được.

Bài vănBài giải thích khoảng 1.000 chữ

Bài giải thích khoảng 1.000 chữ đăng trên một tạp chí về du lịch, Hine đọc tối thứ Hai 28/10.

災害さいがいのあとの旅たび

大おおきな地震じしんや水害すいがいのあと、被災地ひさいちの観光かんこうは二度にど打撃だげきを受うけるといわれる。Người ta nói sau động đất hay lũ lớn, du lịch ở vùng bị thiên tai chịu đòn hai lần.一度目いちどめは、道路どうろや宿やどが壊こわれ、客きゃくを迎むかえられなくなるという直接ちょくせつの被害ひがいである。Lần thứ nhất là thiệt hại trực tiếp: đường sá, nhà nghỉ hư hỏng, không đón được khách.二度目にどめは、施設しせつが直なおったあとも客きゃくが戻もどってこないという、目めに見みえにくい被害ひがいだ。Lần thứ hai là thiệt hại khó thấy bằng mắt: cơ sở đã sửa xong mà khách vẫn không quay lại.実じつは、地元じもとの人々ひとびとを長ながく苦くるしめるのは、後者こうしゃのほうである。Thật ra, cái làm người dân địa phương khổ lâu dài lại là cái sau.客きゃくが戻もどらない理由りゆうの一ひとつは、情報じょうほうの遅おくれだ。Một lý do khách không quay lại là thông tin đến chậm.被害ひがいの様子ようすは大おおきく報道ほうどうされるが、復旧ふっきゅうしたという知しらせは、ほとんど ニュースに ならない。Cảnh thiệt hại được đưa tin rầm rộ, còn tin đã khôi phục thì gần như không thành tin tức.そのため、遠とおくに住すむ人ひとの頭あたまの中なかでは、町まちはいつまでも「壊こわれたまま」なのである。Vì vậy, trong đầu người sống ở xa, thị trấn mãi mãi "vẫn đổ nát".もう一ひとつは、「今いま行いくのは申もうし訳わけない」という遠慮えんりょだ。Lý do nữa là sự ngại ngần "đi lúc này thì thật áy náy".楽たのしむために訪おとずれることが、苦くるしんでいる人ひとに対たいして失礼しつれいに思おもえてしまうのである。Tới đó để vui chơi bỗng có vẻ thất lễ với những người đang khổ.しかし、被災地ひさいちの宿やどや店みせの人ひとに話はなしを聞きくと、返かえってくる答こたえはたいてい同おなじだ。Nhưng hỏi chuyện người ở nhà nghỉ, cửa hàng vùng bị thiên tai thì câu trả lời thường giống nhau.「気きを遣つかってくれるのは ありがたい。でも、本当ほんとうに助たすかるのは、来きてくれることです」。"Được nghĩ cho thì cảm ơn lắm. Nhưng điều thật sự giúp chúng tôi là bạn đến."寄付きふは一度いちどきりだが、客きゃくが泊とまり、食たべ、土産みやげを買かえば、その町まちの仕事しごとが続つづいていく。Tiền quyên góp chỉ một lần, còn khách ở lại, ăn uống, mua quà thì việc làm của thị trấn cứ tiếp tục.観光かんこうは、被災地ひさいちにとって支援しえんの形かたちの一ひとつなのである。Với vùng bị thiên tai, du lịch là một hình thức hỗ trợ.ある温泉町おんせんまちでは、地震じしんから半年はんとしたって宿やどの多おおくが営業えいぎょうを再開さいかいしたが、客きゃくは以前いぜんの三割さんわりほどしか戻もどらなかった。Ở một thị trấn suối nước nóng, nửa năm sau động đất phần lớn nhà nghỉ đã mở lại, nhưng khách chỉ về được khoảng ba phần mười so với trước.そこで町まちは、被害ひがいを隠かくすのではなく、復旧ふっきゅうの歩あゆみそのものを見みせることにした。Thế là thị trấn quyết định không giấu thiệt hại, mà cho khách thấy chính chặng đường khôi phục.直なおした橋はしを渡わたる散歩道さんぽみちをつくり、住民じゅうみんが自分じぶんの言葉ことばで当時とうじのことを語かたる案内あんないを始はじめたのである。Họ làm con đường dạo bộ đi qua cây cầu đã sửa, và bắt đầu những buổi dẫn khách do chính người dân kể lại chuyện hồi ấy bằng lời của mình.二年後にねんご、客きゃくの数かずは地震じしんの前まえとほぼ同おなじところまで回復かいふくしたという。Nghe nói hai năm sau, số khách đã hồi lại gần bằng trước động đất.もっとも、どんな形かたちでも客きゃくが来くればよい、というわけではない。Dù vậy, không phải khách đến kiểu gì cũng được.壊こわれた家いえの前まえで写真しゃしんを撮とって帰かえるだけの見物けんぶつは、住民じゅうみんの心こころを深ふかく傷きずつける。Kiểu đi xem chỉ chụp ảnh trước ngôi nhà đổ rồi về làm tổn thương sâu lòng người dân.大切たいせつなのは、地元じもとの人ひとが「見みてほしい」と思おもうものを、地元じもとの人ひとの案内あんないで見みることだろう。Điều quan trọng có lẽ là xem những gì người địa phương "muốn được xem", và xem qua lời dẫn của chính họ.災害さいがいのあとの観光かんこうを取とり戻もどすのに必要ひつようなのは、立派りっぱな宣伝せんでんよりも、「もう来きても大丈夫だいじょうぶだ」と伝つたえる正確せいかくな情報じょうほうと、訪おとずれる側がわの少すこしの想像力そうぞうりょくである。Cái cần để lấy lại du lịch sau thiên tai, hơn cả quảng cáo hoành tráng, là thông tin chính xác báo rằng "giờ đến được rồi", và một chút trí tưởng tượng của người đến thăm.旅たびに出でることをためらう人ひとにこそ、そのことを知しってほしい。Chính những người đang ngần ngại lên đường là người tôi mong biết điều đó nhất.

Câu 1

筆者ひっしゃによると、被災地ひさいちの人々ひとびとを長ながく苦くるしめるのはどんなことか。

Theo người viết, điều làm người dân vùng bị thiên tai khổ lâu dài là gì?

Câu 2

「いつまでも壊こわれたまま」とあるが、なぜそうなるのか。

"Mãi mãi vẫn đổ nát" — vì sao lại như vậy?

Câu 3

温泉町おんせんまちの例れいで、客きゃくの数かずが回復かいふくしたのはなぜか。

Ở ví dụ thị trấn suối nước nóng, vì sao số khách hồi lại?

Câu 4

この文章ぶんしょうで筆者ひっしゃが最もっとも言いいたいことは何なにか。

Trong bài này, điều người viết muốn nói nhất là gì?

Cảnh 2 · Mẹo đọc của Hine

Mẹo đọc · Sáu đoạn, sáu dòng

Bài dài khoảng 1.000 chữ không khó vì chữ, mà vì trí nhớ: đọc tới đoạn năm, đoạn hai đã mờ. Đề cho khoảng 13 phút cho 4 câu — không đủ để đọc lại cả bài. Cách chắc nhất là đọc câu hỏi trước để biết mình đi tìm gì, rồi mỗi đoạn để lại một dòng tóm bên lề. Câu nào cần quay lại, bạn quay lại dòng tóm chứ không quay lại cả đoạn.

  1. Đọc 4 câu hỏi trước, gạch từ khoá; câu 4 thường hỏi ý cả bài, để làm cuối.
  2. Tóm mỗi đoạn bằng 5–7 chữ tiếng Việt bên lề: đọc lại dòng tóm nhanh hơn đọc lại đoạn.
  3. Trích tiểu thuyết: theo dõi ai nói, ai nghĩ; câu hỏi hay hỏi vì sao nhân vật làm vậy.

長文ちょうぶんは、問題もんだいを先さきに読よんでから本文ほんぶんに入はいる。

Bài dài thì đọc câu hỏi trước rồi mới vào bài.

実じつは、地元じもとの人々ひとびとを長ながく苦くるしめるのは、後者こうしゃのほうである。

Dòng tóm đoạn 1: "khách không về mới khổ lâu".

客きゃくが戻もどらない理由りゆうの一ひとつは、情報じょうほうの遅おくれだ。

Dòng tóm đoạn 2: "tin chậm + ngại đi".

しかし、被災地ひさいちの宿やどや店みせの人ひとに話はなしを聞きくと、返かえってくる答こたえはたいてい同おなじだ。

Dòng tóm đoạn 3: "dân muốn khách đến". しかし mở đoạn — ý đảo chiều.

ある温泉町おんせんまちでは、地震じしんから半年はんとしたって宿やどの多おおくが営業えいぎょうを再開さいかいしたが、客きゃくは以前いぜんの三割さんわりほどしか戻もどらなかった。

Dòng tóm đoạn 4: "ví dụ: cho xem đường khôi phục".

もっとも、どんな形かたちでも客きゃくが来くればよい、というわけではない。

Dòng tóm đoạn 5: "đừng chỉ chụp nhà đổ".

災害さいがいのあとの観光かんこうを取とり戻もどすのに必要ひつようなのは、立派りっぱな宣伝せんでんよりも、「もう来きても大丈夫だいじょうぶだ」と伝つたえる正確せいかくな情報じょうほうと、訪おとずれる側がわの少すこしの想像力そうぞうりょくである。

Dòng tóm đoạn 6: "tin đúng + nghĩ cho dân" — đây là ý câu 4.

Hine: Đọc xong mình gập bài lại, chỉ nhìn sáu dòng bên lề mà trả lời được ba trên bốn câu. Câu còn lại phải mở đoạn bốn ra — nhưng mình biết ngay phải mở đoạn nào.

Nhắc lạiBài luận dài ở N2Dạy chính ở: Luyện đọc hiểu N2 · Bài luận khoảng 900 chữ

Ở N2, bài luận khoảng 900 chữ có 3 câu và ý người viết hay nói thẳng. Bài N1 khoảng 1.000 chữ, 4 câu, nhiều đoạn đảo chiều hơn (しかし · nhưng, もっとも · dù vậy) — dòng tóm mỗi đoạn giữ cho bạn khỏi lạc.

Cảnh 3 · Luyện thêm

1 đoạn nữa, dùng mẹo vừa học

Đoạn trích tiểu thuyết khoảng 1.000 chữ về một người thợ làm đèn lồng, 4 câu hỏi. Văn kể thì theo dõi ai nói, ai nghĩ — câu hỏi hay hỏi vì sao nhân vật làm vậy.

Phiên âm

13:00 Bấm để bắt đầu

Đồng hồ 13 phút cho 4 câu. Hết giờ vẫn làm tiếp được.

Bài vănĐoạn trích tiểu thuyết khoảng 1.000 chữ về một người thợ làm đèn lồng

Đoạn trích một truyện ngắn, người kể là đứa cháu bỏ việc công ty về học nghề ở xưởng đèn lồng của ông.

竹たけの影かげ

祖父そふの工房こうぼうは、川沿かわぞいの細ほそい路地ろじの奥おくにあった。Xưởng của ông tôi nằm cuối một con hẻm nhỏ dọc bờ sông.戸とを開あけると竹たけと糊のりの匂においがして、天井てんじょうからは骨組ほねぐみだけの提灯ちょうちんがいくつも下さがっていた。Mở cửa là mùi tre và hồ dán, trên trần treo lủng lẳng mấy chiếc đèn lồng mới có khung.春はるから私わたしは、会社かいしゃを辞やめてここに通かよっている。Từ mùa xuân, tôi bỏ việc công ty để ngày ngày tới đây.祖父そふは何なにも教おしえてくれない。Ông chẳng dạy tôi điều gì.「見みて覚おぼえろ」と言いったきり、黙だまって竹たけを割わり続つづけるだけだ。Nói đúng một câu "Nhìn mà học", rồi cứ im lặng chẻ tre.ある日ひ、市内しないの大おおきなホテルから注文ちゅうもんが来きた。Một hôm, có đơn đặt hàng từ một khách sạn lớn trong thành phố.玄関げんかんに飾かざる提灯ちょうちんを二百個にひゃっこ、一いっか月げつで作つくってほしいという。Họ muốn trong một tháng làm hai trăm chiếc đèn lồng treo ở sảnh.私わたしは喜よろこんだが、祖父そふは電話でんわを置おくと、しばらく窓まどの外そとを見みていた。Tôi mừng rỡ, còn ông đặt điện thoại xuống rồi nhìn ra ngoài cửa sổ một lúc.「断ことわるの?」と聞きくと、祖父そふは首くびを横よこに振ふった。Tôi hỏi "Ông từ chối à?", ông lắc đầu.「断ことわりはしない。ただ、一いっか月げつでできるのは五十ごじゅうだ。それでいいか、聞きいてくれ」"Không từ chối. Có điều, một tháng làm được năm mươi. Hỏi họ xem thế có được không."その夜よる、私わたしは祖父そふに食くってかかった。Tối hôm đó, tôi cãi lại ông.機械きかいで骨ほねを作つくれば二百にひゃくでも間まに合あう、町まちの工房こうぼうはどこもそうしている、と。Rằng làm khung bằng máy thì hai trăm cũng kịp, xưởng nào trong phố cũng làm thế cả.祖父そふは返事へんじの代かわりに、一ひとつの提灯ちょうちんを私わたしの前まえに置おいた。Thay cho câu trả lời, ông đặt một chiếc đèn lồng trước mặt tôi.灯ひを入いれると、和紙わしを通とおした光ひかりが、竹たけの細ほそい影かげと一緒いっしょに壁かべに揺ゆれた。Thắp đèn lên, ánh sáng qua lớp giấy dó rung rinh trên tường cùng những bóng tre mảnh.「竹たけは一本いっぽん一本いっぽん、太ふとさも癖くせも違ちがう。それに合あわせて削けずるから、この影かげが出でる」"Mỗi cây tre một độ dày, một tính riêng. Gọt theo từng cây nên mới ra cái bóng này."私わたしは黙だまって、機械きかいで作つくった骨ほねの提灯ちょうちんを思おもい浮うかべた。Tôi im lặng, nghĩ tới những chiếc đèn khung làm bằng máy.その影かげは、どれもまっすぐで、どれも同おなじだった。Bóng của chúng chiếc nào cũng thẳng tắp, chiếc nào cũng giống chiếc nào.ホテルの返事へんじは、意外いがいなものだった。Câu trả lời của khách sạn thật bất ngờ.五十個ごじゅっこでかまわない、足たりない分ぶんは、工房こうぼうで作つくっているところの写真しゃしんを飾かざりたい、というのである。Năm mươi chiếc cũng được, chỗ còn thiếu họ muốn treo ảnh cảnh làm đèn ở xưởng.私わたしはその晩ばん、初はじめて自分じぶんから竹たけを手てに取とった。Tối đó, lần đầu tiên tôi tự mình cầm lấy cây tre.祖父そふは何なにも言いわなかったが、私わたしが割わった竹たけを一本いっぽんだけ拾ひろい上あげて、しばらく灯ひにかざして見みていた。Ông không nói gì, chỉ nhặt một thanh tre tôi chẻ, giơ lên ánh đèn nhìn một lúc lâu.

Câu 5

祖父そふが電話でんわを置おいたあと、しばらく窓まどの外そとを見みていたのはなぜだと考かんがえられるか。

Vì sao có thể nghĩ rằng ông đặt điện thoại xuống rồi nhìn ra cửa sổ một lúc?

Câu 6

「私わたし」が祖父そふに食くってかかったのは、何なにを言いいたかったからか。

"Tôi" cãi lại ông là vì muốn nói điều gì?

Câu 7

祖父そふが提灯ちょうちんに灯ひを入いれて見みせたのは、何なにを伝つたえるためか。

Ông thắp chiếc đèn lồng cho "tôi" xem là để nói điều gì?

Câu 8

最後さいごの場面ばめんで、祖父そふが「私わたし」の割わった竹たけを灯ひにかざして見みていたのは、どんな気持きもちからだと考かんがえられるか。

Ở cảnh cuối, ông giơ thanh tre "tôi" chẻ lên ánh đèn nhìn là vì cảm xúc gì?

Cảnh 4 · Bài sau

0/8 câu đúng

Đúng 5 câu là đóng dấu. Chỉ tính lần chọn đầu tiên.

Kết quả chỉ lưu trên trình duyệt này.

Mang về từ bài này

Vừa đọc vừa tóm mỗi đoạn trong một dòng.

Đạt từ 60% bài kiểm tra ở trên để nhận con dấu đỏ.

Bài 14

「引用いんようされた意見いけんと筆者ひっしゃの意見いけんを分わけて読よむ。」

Bài 14: sáng thứ Bảy ở thư viện gần ga わかばだい, một xã luận dài trích ba ý kiến khác nhau rồi mới nói ý mình. Hine tô ba màu để tách ai nói gì.

Vào bài sau

塵ちりも積つもれば山やまとなるGóp gió thành bão.

Bài này 8 câu, đúng 5 câu là đóng dấu.

← Về trang khoá Luyện đọc hiểu N1