Bài 6· Đoạn vừa (中文) · còn 6 tuần· 25 phút

一ひとつの段落だんらくに一ひとつの考かんがえMỗi đoạn văn một ýMột bài tản văn về đời sống

Trưa thứ Năm trời se lạnh, khoảng 17 độ. Tạp chí của trường số tháng Mười có bài tản văn của một giáo sư về chuyện đi bộ chậm; Hine vừa ăn vừa đọc, ghi một dòng ý chính bên lề mỗi đoạn. ワン ngồi đối diện đọc thử, chỉ vào đoạn ba: "Đoạn này nói đi chậm mệt lắm, đúng không?" — sai, vì ワン chỉ đọc câu đầu.

  • Bài khoảng 350 chữ, 3 câu hỏi
  • Ghi một dòng ý chính cho mỗi đoạn
  • Câu hỏi hỏi đoạn nào thì đọc lại đoạn đó
JLPT · Chủ nhật 3/12/2028

Còn 45 ngày

Thứ Năm 19/10, 12 giờ 30 trưa · Đoạn vừa

Cảnh 1 · Đọc như thi

Đọc như ngày thi

Bấm đồng hồ rồi đọc. Chọn một đáp án: câu chứa đáp án trong bài sẽ sáng lên, mỗi lựa chọn có lời giải.

Phiên âm

8:00 Bấm để bắt đầu

Đề thật: khoảng 3 phút cho một đoạn ngắn có một câu hỏi.

Bài vănTản văn "Đi bộ chậm"

Bài của một giáo sư trên tạp chí trường Sakura số tháng Mười.

ゆっくり歩あるく

わたしは若わかいころから歩あるくのが速はやかった。Từ hồi trẻ tôi đã đi bộ nhanh.駅えきまでの道みちは、早はやく着つくための道みちでしかなかった。Con đường ra ga chỉ là con đường để đến cho nhanh.ところが去年きょねん、足あしをけがして、しばらくゆっくりしか歩あるけなくなった。Thế nhưng năm ngoái tôi bị đau chân, một thời gian chỉ đi chậm được.すると、今いままで気きづかなかったものが次々つぎつぎに目めに入はいってきた。Thế là những thứ trước nay tôi không để ý lần lượt hiện ra trước mắt.古ふるい本屋ほんやの看板かんばん、庭にわに咲さく花はな、窓まどから聞きこえるピアノの音おと。Tấm biển của hiệu sách cũ, hoa nở trong vườn, tiếng piano vọng ra từ cửa sổ.ゆっくり歩あるくのは、最初さいしょはとても疲つかれた。Đi chậm, lúc đầu rất mệt.後うしろから来くる人ひとに抜ぬかれるたびに、申もうし訳わけないような気持きもちになった。Mỗi lần bị người phía sau vượt, tôi lại thấy như có lỗi.だが、慣なれてくると、急いそがなくても困こまることはほとんどないと分わかった。Nhưng quen rồi, tôi hiểu ra rằng không vội cũng hầu như chẳng có gì phiền.足あしが治なおった今いまも、わたしは時々ときどきわざとゆっくり歩あるく。Giờ chân đã khỏi, thỉnh thoảng tôi vẫn cố ý đi chậm.ゆっくり歩あるくと、町まちの音おとが聞きこえてくる。Đi chậm thì nghe được tiếng của phố phường.速はやさだけを大切たいせつにしていたら、町まちの半分はんぶんしか知しらないままだっただろう。Nếu chỉ coi trọng tốc độ, chắc tôi đã chỉ biết được một nửa con phố.

Câu 1

筆者ひっしゃがゆっくり歩あるくようになったきっかけは何なんですか。

Điều gì khiến người viết bắt đầu đi chậm?

Câu 2

第だい3段落だんらくで、筆者ひっしゃが分わかったことは何なんですか。

Ở đoạn 3, người viết đã hiểu ra điều gì?

Câu 3

ゆっくり歩あるくことについて、筆者ひっしゃはどう考かんがえていますか。

Về việc đi chậm, người viết nghĩ thế nào?

Cảnh 2 · Mẹo đọc của Hine

Mỗi đoạn một dòng

Đoạn vừa dài gấp đôi đoạn ngắn, nhưng vẫn đi theo đoạn. Đề hỏi 3 câu, và thường mỗi câu ứng với một vùng của bài. Một dòng ý chính bên lề mỗi đoạn là đủ để biết phải quay lại chỗ nào.

  1. Câu hỏi đi theo thứ tự đoạn: câu 1 thường nằm ở đoạn 1–2.
  2. Ghi ý chính mỗi đoạn bằng 5–6 chữ tiếng Việt bên lề, đừng dịch cả đoạn.
  3. Ý của đoạn có khi ở câu cuối đoạn, không phải câu đầu.

ところが去年きょねん、足あしをけがして…

Đoạn 2 → lề: "đau chân, phải đi chậm". Câu hỏi 1 nằm ở đây.

ゆっくり歩あるくのは、最初さいしょはとても疲つかれた。

Câu ĐẦU đoạn 3 — chưa phải ý của đoạn. ワン dừng ở đây nên đoán sai.

だが、慣なれてくると、急いそがなくても困こまることはほとんどないと分わかった。

Câu CUỐI đoạn 3 → lề: "không vội cũng không sao".

ゆっくり歩あるくと、町まちの音おとが聞きこえてくる。

Đoạn 4 → lề: "đi chậm, nghe được phố".

Hine: Bốn dòng bên lề của mình: "đi nhanh" · "đau chân, thấy nhiều thứ" · "không vội cũng ổn" · "đi chậm, nghe được phố". ワン đọc bốn dòng đó xong thì tự sửa đáp án.

Nhắc lạiChia đoạn, ghi ý chínhDạy chính ở: Luyện đọc hiểu N4 · Một năm rưỡi ở Tokyo

段落だんらく · đoạn văn

Cảnh 3 · Luyện thêm

Một bài nữa để tự luyện

Bài "Chiếc ô quên trên tàu", cũng khoảng 350 chữ, 4 đoạn. Ghi một dòng ý chính mỗi đoạn trước khi nhìn câu hỏi.

Phiên âm

8:00 Bấm để bắt đầu

Đề thật: khoảng 8 phút cho 1 đoạn ngắn.

Bài vănTản văn "Chiếc ô quên trên tàu"

Bài trong sách luyện của Hine, để tự luyện sau bài a.

電車でんしゃに忘わすれた傘かさ

先週せんしゅう、電車でんしゃに傘かさを忘わすれた。Tuần trước, tôi để quên ô trên tàu.祖母そぼにもらった、緑色みどりいろの古ふるい傘かさだ。Chiếc ô cũ màu xanh lá bà tôi cho.駅えきで気きづいたときには、電車でんしゃはもう出でてしまっていた。Lúc nhận ra ở ga thì tàu đã chạy mất.正直しょうじき、もう戻もどってこないだろうと思おもった。Thật lòng, tôi nghĩ chắc không lấy lại được nữa.安やすいビニール傘がさなら、買かい直なおせばいい。Ô ni-lông rẻ tiền thì mua cái khác là xong.しかし、あの傘かさの代かわりはどこにもない。Nhưng chiếc ô ấy thì không gì thay được.だめでもともとと思おもって、鉄道てつどう会社がいしゃの忘わすれ物ものセンターに問とい合あわせてみた。Nghĩ "không được cũng chẳng mất gì", tôi thử hỏi trung tâm đồ thất lạc của công ty đường sắt.すると、終点しゅうてんの駅えきに届とどいているという。Họ bảo ô đã được chuyển tới ga cuối.だれかが拾ひろって、駅員えきいんに渡わたしてくれたのだ。Ai đó đã nhặt và đưa cho nhân viên ga.傘かさを受うけ取とりに行いった帰かえり、わたしは知しらない人ひとの小ちいさな親切しんせつについて考かんがえた。Trên đường về sau khi nhận ô, tôi nghĩ về lòng tốt nhỏ của một người lạ.今度こんどだれかの忘わすれ物ものを見みつけたら、わたしも必かならず届とどけようと思おもう。Lần sau thấy đồ ai bỏ quên, tôi cũng nhất định sẽ mang đi gửi.

Câu 4

筆者ひっしゃが「あの傘かさの代かわりはどこにもない」と言いうのは、なぜですか。

Vì sao người viết nói "chiếc ô ấy không gì thay được"?

Câu 5

忘わすれ物ものセンターに問とい合あわせたとき、筆者ひっしゃはどんな気持きもちでしたか。

Lúc hỏi trung tâm đồ thất lạc, người viết có tâm trạng thế nào?

Câu 6

筆者ひっしゃがこの経験けいけんから思おもったことは何なんですか。

Từ trải nghiệm này, người viết nghĩ gì?

Cảnh 4 · Bài sau

0/6 câu đúng

Đúng 4 câu là đóng dấu. Chỉ tính lần chọn đầu tiên.

Kết quả chỉ lưu trên trình duyệt này.

Mang về từ bài này

Mỗi đoạn một ý.

Đạt từ 60% bài kiểm tra ở trên để nhận con dấu đỏ.

Chặng 3 · Bài 7

「「そのこと」は前まえの段落だんらくを指さしている。」

Bài 7: ông Yamada đưa Hine tờ bản tin khu phố có bài ông viết. Đọc tới 「そのこと」, Hine phải lần ngược cả một đoạn mới biết ông đang nói gì.

Vào bài sau

習ならうより慣なれよHọc không bằng quen tay.

Bài này 6 câu, đúng 4 câu là đóng dấu.

← Về trang khoá Luyện đọc hiểu N3